Họ ngắm nhìn nhà thờ Chính thống giáo từ cửa sổ tòa chung cư lụp xụp nơi ông ta sống. Nhà thờ nọ giống nhà máy xay bột hơn là một nơi thờ phụng, với tường xây cao bằng gạch đỏ và phần mái màu xanh lục. Bảy ngọn tháp tròn và hẹp nhô lên khỏi nhà thờ như những tháp cầu nguyện phương Đông trông chẳng có vẻ gì là thuộc về cùng một công trình, với mấy cái chóp hình củ hành mạ vàng trên đó nhô lên mấy cây thập tự cao như cột ăng ten.
“Ông ta đem đến cho chúng tôi nhà thờ, và đã lấy đi của chúng tôi cha Taratoukhine.”
“Ông thực sự tin rằng ông ta có thể quyết định số phận của một nhà thờ? Chuyện gì đã xảy đến với ông mục sư vậy?”
“Ông ấy đang chết gí trong một căn nhà gỗ không nước, không khí đốt ở khu nhân viên đường sắt Tchita. Ông ấy đã từ chối ban phước cho nhà tù nơi lưu đày Borissovitch. Giáo chủ Alexis II đã ra lệnh cho Ievdokimov, giám mục của ông ấy, giáng giáo chức của vị mục sư. Một giám mục Nga đi Toyota đen hai cầu, ông tưởng tượng xem!”
Ông ta buông tấm rèm ố vàng vì nicotin xuống. Akounine sống trong một căn hộ hai phòng đầy ắp ký ức về tất cả những bất hạnh của chính mình. Những bức ảnh chụp lũ trẻ vui vẻ và ngoan ngoãn, tất cả đều đã chết. Cô con gái Irina dịu dàng, cậu con trai Leonid yêu quý, người con rể Vassili. Tất cả đều chết ở tuổi ngoài ba mươi.
“Ở đây, tuổi thọ là bốn mươi hai, ông bạn thân mến. Tất cả những người trên năm mươi tuổi mà ông bắt gặp đều là những phép mầu hiện hình. Tất nhiên, ông thị trưởng sẽ nói với ông rằng mỗi trường học đều có bể bơi nước nóng và lũ trẻ trồng quýt trong nhà kính, nhưng không hành động tuyên truyền nào có thể xóa đi thực tế này. Người ta sẽ nghi ngờ ông nếu ông sống quá tuổi bốn mươi.”
“Ông sống ở đây lâu chưa?”
“Bố tôi là một người lưu đày, như người ta vẫn gọi. Hồi ấy, chỉ cần ông đứng đái xuống sông Dniepr, sông Volga hay sông Ob vậy là ông sẽ kết thúc trong một tiểu đoàn trừng giới bị lưu đày tới đây để xây dựng thành phố lớn của ngày mai tươi sáng nhất. Dùng tay trần sục vào uranium.”
“Tại sao ông chưa rời đi?”
“Một phần vì thiếu khả năng, và chủ yếu là do mê tín. Tất cả những người rời đi đều chết không lâu sau đó. Thậm chí có những gã từ Moscow tới để thực hiện các nghiên cứu đánh giá. Như thể phóng xạ bảo tồn chúng tôi chừng nào chúng tôi còn ngâm mình trong nó. Quả thực, chúng tôi không muốn thấy người chết gần mình. Chúng tôi chỉ tính đếm những người khác, những người đã có can đảm để ra đi, vì ghen tị. Vì oán hận.”
Trong sự im lặng bao trùm sau đó, một tiếng thều thào khẽ gọi Akounine từ phòng ngủ.
“Thứ lỗi cho tôi,” ông ta nói, “đó là Svetlana. Tôi vẫn chưa giới thiệu vợ tôi với ông nhỉ.”
Ông ta dẫn đường cho Yeruldelgger và đẩy cửa căn phòng ngủ duy nhất. Căn phòng bé xíu này, chật ních những món đồ gỗ nặng nề, chìm trong bóng tối sau loạt rèm nhung dày. Lọt thỏm giữa một chiếc giường gỗ lớn, hai bàn tay xanh lướt gầy guộc như những chuỗi hạt bằng xương, gan bàn tay hướng lên trần trên tấm vải phủ giường, một phụ nữ với khuôn mặt đã chết nằm bất động. Một cái ống trong suốt, nối với bình ôxy tróc sơn, giúp bà ta thở, và một ống truyền dịch nối vào ống thông đang truyền thứ dung dịch không màu vào một bên cánh tay người phụ nữ.
“Morphin,” Akounine nói với Yeruldelgger, ông đã hiểu cả.
Người phụ nữ khốn khổ chẳng còn tuổi nữa. Bà ta nhìn chằm chằm vào một cành thông đặt trên chiếc ghế kê bên cạnh giường mình. Ánh sáng nhiều màu của chuỗi đèn nhấp nháy phản chiếu trong mấy bóng đèn mong manh kiểu cổ và hắt lên tường những cái bóng nhiều màu và trải dài. Bên dưới cây thông, Yeruldelgger trông thấy một cái máng ăn và Jesus sơ sinh, hai cánh tay dang ra, nằm trên một chiếc giường phủ rơm giữa Maria và Joseph, gần như trần truồng dưới hơi thở của con lừa và con bò.
“Ở đất nước chúng tôi sắp đến Giáng sinh rồi. Tôi đoán là ở nước ông các ông không tin vào chuyện này phải không?”
Yeruldelgger quyết định không trả lời. Không còn sức để ngoái đầu về phía họ, ánh mắt như bị thôi miên bởi Jesus sơ sinh, người vợ thì thào gì đó mà chỉ Akounine hiểu.
“Đây là người bạn Mông cổ mà anh đã nói với em hôm qua,” ông ta trả lời bằng giọng trìu mến. “Một đồng nghiệp.”
“Rất hân hạnh,” Yeruldelgger nói, không nghĩ ra được gì thêm.
Người phụ nữ lại thì thào và Akounine nắm lấy vai Yeruldelgger để hai người ra khỏi phòng.
“Bà ấy chỉ muốn thấy ông. Giờ bà ấy mệt. Bà ấy muốn nghỉ ngơi. Tôi để đèn nhấp nháy. Tôi tin bà ấy thích nó. Tôi nghĩ vậy. Tôi chẳng biết gì nữa. Ánh đèn nhấp nháy, trước kia nó làm bà ấy bị đau nửa đầu dữ dội.”
Họ quay ra phòng khách nhỏ xíu. Akounine lấy ra một chai vodka và hai chiếc ly. Họ uống cạn ly đầu tiên, trong im lặng, trong ánh sáng ngược mùa đông. Yeruldelgger là người rót tiếp cho cả hai.
“Từ khi nào vậy?”
“Bệnh ung thư, từ bốn năm nay. Chứng trầm cảm, từ khi lũ trẻ bị ung thư. Từ khi Irina mắc bệnh.”
“Còn ông?”
“Chẳng gì cả, nhưng tôi không tìm cách biết. Tôi chăm sóc bà ấy.”
“Erdenbat, bọn du đãng, những vụ ám sát, là vì việc này sao?”
“Phải. Để mua thuốc, ôxy, morphin. Tôi căm ghét những gì chúng buộc tôi làm, nhưng bà ấy là tất cả những gì tôi có và tôi sẽ làm vậy chừng nào còn buộc phải thế.”
“Và ông chưa bao giờ nghĩ tới việc giải thoát bà ấy theo cách khác sao?”
“Ông tin vào chúa không?” Akounine hỏi thay vì trả lời.
“Tôi ấy à? Tôi tin vào con người đã là khó lắm rồi.”
“Tôi thì có. Tôi không tin rằng Chúa phán xử tôi mỗi ngày vì những gì tôi làm. Tôi tin Chúa sẽ phán xử tôi vào lúc cuối cùng, một lần duy nhất, và Chúa sẽ hiểu những gì tôi đã làm và vì sao.”
“Tôi cũng hy vọng vậy cho ông!” Yeruldelgger thốt lên.
Họ uống thêm một ly vodka nữa rồi Svetlana lại gọi Akounine. Ông này cáo lỗi khi đi ngang qua trước mặt Yeruldelgger rồi đẩy cửa phòng người vợ đang chết dần.
“Anh đây, thiên thần của anh…”
Yeruldelgger úp mặt vào hai lòng bàn tay. Akounine đã lạnh lùng bắn hạ hai người vào buổi chiều hôm đó, và đã tra tấn một người khác trước khi kết liễu hắn ta. Ông ta hẳn cũng đã giết ông với sự quả quyết tương tự nếu Erdenbat yêu cầu. Vì một bình ôxy hay một ống morphin. Cho bà vợ bị nhiễm xạ của ông ta. Cuộc đời khốn kiếp!
“Bà ấy chỉ muốn tôi thấm ướt môi cho bà ấy. Ôxy làm bà ấy khô miệng,” Akounine giải thích khi quay ra và ngồi xuống.
“Ông quen Erdenbat như thế nào?” Yeruldelgger hỏi.
“Ở đây ông ta luôn luôn là một ông trùm. Ông ta tới đây chừng hai mươi năm trước. Ông ta từng kể các trại giam bên nước ông vô nhân đạo hơn cả bên chúng tôi, và ông ta đã sống sót. Ông ta bạo lực tới mức khó tin. Ông ta áp đặt quyền lực của mình qua gieo rắc sợ hãi. Rồi ông ta trở nên rất giàu có và duy trì quyền lực của mình bằng tiền.”
“Ông có biết ông ta làm thế nào để được vậy không?”
“Về những gì ông ta đã vơ vét ở đất nước ông thì không. Còn ở đây thì có. Nhìn xem, ông sẽ nhanh chóng hiểu thôi.”
Ông ta lấy từ trong ngăn kéo cái bàn thấp ra một chiếc điện thoại di động cũ rồi cắm vào một dây cáp. Ông ta bấm phím thoăn thoắt vài giây cho tới khi hiển thị một bức ảnh chụp vệ tinh của Google Maps.
“Ông thấy đấy, cách đây một trăm kilômét về phía Đông, biên giới của Trung Quốc, Nga và Mông Cổ gặp nhau. Bây giờ, nếu ông phóng to phần biên giới Trung-Nga, ông thấy ngay rằng đây là một biên giới thực sự, với vùng đất trắng, các chốt kiểm soát và đủ thứ bố phòng. Biên giới giữa Nga và nước ông, đã nhẹ nhàng hơn nhiều rồi. Mặt khác cách đây cũng chưa lâu lắm, với người Nga chúng tôi, biên giới lỏng lẻo như thế cũng tốt, để xoáy uranium của các ông. Còn về biên giới Trung-Mông, người Trung Quốc có quan điểm rằng các ông chỉ là một quốc gia chết tiệt đáng lẽ phải thuộc về họ hiển nhiên tới mức đường biên giới này kỳ thực chẳng hề tồn tại. Thế nên khi Liên Xô tan rã, khi chúng tôi trở thành nơi hang cùng ngõ hẻm của nước Nga, còn Trung Quốc trở thành nhà sản xuất hàng đầu mọi thứ cho mọi người, ý tưởng về một kênh buôn lậu lớn đã hình thành trong đầu những người như Erdenbat. Toàn bộ hoạt động buôn lậu bắt đầu rộn ràng quanh ngã ba biên giới rồi đi qua tỉnh Dornod bên nước ông. Đó là một ý tưởng thiên tài. Trung chuyển qua nước ông!”
“Hoạt động buôn lậu này lớn chứ?”
“Hàng triệu đô la.”
“Thế còn việc vận chuyển buôn bán trẻ em?”
“Không có liên quan gì. Toàn bộ lũ trẻ đều lên đường tới cuộc phiêu lưu lớn ở châu Âu. Người ta dạy chúng ít cách ăn trộm ở đây, sau đó chúng thử tay nghề tại các thành phố trên chặng đường xuyên Siberia trước khi tới châu Âu. Đầu tiên là Ukraina, rồi từ đó có thể lựa chọn Hungary, Rumani hay Ba Lan. Nói chung là cho tới tận Pháp.”
“Rồi khi đã tới đó?”
“Chừng nào lũ nhóc ăn trộm và mang thành quả về, ai đó sẽ quản đến chúng. Nếu không chúng sẽ bị vứt bỏ. Chúng thường từ mười đến mười hai tuổi, không biết tiếng địa phương, không có giấy tờ…”
“Tôi thấy khó tưởng tượng nổi thế giới ngầm như ở Siberia lại có thể mất thời gian vào việc tổ chức những vụ ăn cắp vặt cho một đám kẻ cắp oắt con.”
“Ông đã bao giờ ăn Mars chưa?”
“Mấy thanh sôcôla đó hả? Rồi, thì sao?” Yeruldelgger ngạc nhiên.
“Bởi vì anh em nhà Mars đã một thời gian dài đứng đầu những gia sản lớn nhất thế giới với những mẩu sôcôla ngớ ngẩn của họ. Tôn chỉ của họ là: lợi nhuận nhỏ, số lượng lớn. Với lũ nhóc cũng thế. Có đến vài chục băng nhóm nhỏ thực hiện mỗi ngày những vụ trộm nhỏ trên mỗi quốc gia châu Âu. Ông không tưởng tượng nổi hoạt động này mang về bao nhiêu triệu đâu.”
“Và chúng trộm cái gì?”
“Bất cứ thứ gì thuộc về một thương hiệu tiếng tăm và đồ nhái không thể sánh ngang được. Rượu vang, sâm banh, nước hoa, mỹ phẩm.”
“Và ông đã giết từng ấy người để bảo vệ trò này sao?”
“Tôi làm vậy để bảo vệ Svetlana.”
“Ông là đồ rác rưởi khốn kiếp, và nỗi thống khổ của vợ ông chẳng làm thay đổi gì chuyện đó cả.”
“Tôi biết. Khỏi cần nhắc lại với tôi.”
Họ nhìn nhau hồi lâu, mỗi người cố kìm nén cơn phẫn nộ của mình.
“Ông ngủ trên trường kỷ,” đột nhiên Akounine nói rồi ực nốt ly vodka cuối cùng của mình.
“Còn ông?”
“Trên một tấm nệm trải dưới sàn, cạnh giường của bà ấy. Để nghe được khi bà ấy gọi ban đêm.”