“Ổn chứ?” Soulniz lo lắng hỏi.
“Món rượu quả hôm qua làm đầu tôi đau quá.”
“Cậu muốn một viên aspirin không?”
“Không dung nạp nặng. Chỉ cần đụng vào nó là khắp người tôi nổi toàn mụn rộp và mụn mủ!”
“Thế còn Gantulga?”
“Nghe này, ông mà viết những gì cậu nhóc kể cho tôi tối qua thành sách thì rốt cuộc nó sẽ thành phim bom tấn ở Hollywood. Những gì thằng bé đã phải trải qua… Ông có hình dung nổi là nó đã theo học ở một thiền viện Thiếu Lâm không, nghe thật điên rồ nhỉ?”
Soulniz không trả lời. Ông đã thấy hai người họ tựa vào nhau ngủ trong bếp và tranh thủ lúc ấy xuống nhà đi mua vài chiếc bánh kiểu Vienna ở đúng cửa hiệu mang tên Viennois trên phố Dauphin, cùng một túi kẹo sôcôla nhân kem cà phê mua ở cửa hàng Marianik ngay kề bên.
Lúc này, họ đang dừng xe trước biển trong bãi để xe của Le Petit Vazouyard, một nhà hàng giờ này vẫn còn đóng cửa, và hai người cùng dõi theo cậu nhóc đứng im quay mặt ra biển.
“Thằng bé sống giữa thảo nguyên rộng lớn, và sự mênh mông của biển khiến nó ấn tượng,” Soulniz triết lý.
“Nhiều khả năng vì phi nước đại trên sóng sẽ ít khả thi hơn trên thảo nguyên,” Zarza trả lời.
“Đừng nói với tôi là cậu không thích biển.”
“Tôi thấy ghê sợ thứ này. Cái bụng mềm nhão này làm tôi rùng mình. Tất cả những chiều sâu, những vực thẳm không ngừng chuyển động này…”
“Còn với tôi chính cái này là thứ tôi sợ,” Soulniz vừa trả lời vừa giơ cốc trà của ông lên.
“À, thế thì đừng để thằng bé thấy điều đó. Nó đã rất háo hức chuẩn bị thứ này cho chúng ta!”
“Phải, nhưng dẫu sao thì, bỏ muối vào món trà Knagchenjunga từ Nepal của tôi rồi lại còn rắc cả bột mì vào đó nữa, phải thừa nhận đúng là khó nuốt.”
“Chắc là vì bơ của ông chưa đủ chua rồi. Thế nên uống đi đừng cằn nhằn nữa. Hôm nay là ngày của thằng nhóc. Nó ngắm biển rồi nó gọi điện cho Yeruldelgger, người đóng vai cha của nó.”
Anh hạ kính xe xuống và gọi Gantulga để cậu nhóc chui vào xe cùng họ.
“Quay lại đây, cộng sự, nếu không em sẽ nhiễm lạnh đấy. Sẽ thật ngớ ngẩn nếu bị khản tiếng lúc gọi cho ông bạn già của em!”
Gantulga chạy tới chỗ họ, lạnh co ro, nhưng từ chối cốc trà bốc hơi mà Soulniz đưa cho mình.
“Không, cái này kinh lắm. Cần phải có trà đen ép bánh và bơ làm từ sữa bò Tây Tạng để chua. Còn cái này đúng là vớ vẩn!”
“Thằng bé nói gì thế?”
“Nó bảo rằng cái này để dành cho chúng ta, nhưng nó thì thích nếm thứ gì đó đậm chất Pháp hơn,” Zarza dịch.
“Hay lắm, tôi có thứ cậu nhóc cần đây. Ngay đằng sau đây, một cốc sôcôla nóng với kem đánh kiểu Isigny tại Trang viên của các Họa sĩ Ấn tượng.”
Soulniz lập tức nổ máy rồi cho xe chạy ngược lên hai trăm mét đường rải sỏi dẫn tới tận Trang viên. Rõ ràng ông biết rõ cả tại nơi này, ba người cũng được chào đón như bạn trong nhà. Pierre, người phụ trách nhà hàng, dọn cho họ một bàn đẹp để dùng bữa sáng ở gần cửa sổ cao chạm trần, có tầm nhìn ra thảm cỏ dốc thoai thoải xuống tận chỗ ngọn hải đăng nhỏ cổ kính, rồi cả bãi biển mênh mông vắng tanh mà thủy triều rút xuống để lộ ra, và tận cùng là dải mặt biển như sợi ruy băng màu xám nhôm lấp lánh dưới bầu trời mùa đông ánh bạc. Soulniz gọi một tách trà đúng nghĩa, Zarza gọi một suất đúp cà phê thêm chút sữa Nestlé nếu có thể, và một tách sôcôla nóng kiểu Vienna cho Gantulga. Hai người khoan khoái nhìn nhau khi chứng kiến cậu nhóc mở to mắt im lặng trước mấy bộ đồ ăn bằng bạc, những món đồ sứ tinh xảo, và các món đồ gỗ theo phong cách thời Louis gì đó. Soulniz liền thông qua Zarza giải thích với cậu nhóc rằng những viên gạch lát dưới sàn là nguyên bản ban đầu có niên đại từ thế kỷ mười ba, vào thời kỳ Thành Cát Tư Hãn vừa bắt đầu tiến quân về phía Tây. Tuy nhiên ánh mắt cậu nhóc bỗng tối sầm và Soulniz tin ông đã làm cậu nhóc phật ý. Gantulga cau mày lại khó chịu. Khi người phụ trách nhà hàng đầy tự hào mang tới cho cậu nhóc cái tách lớn bốc hơi nghi ngút đựng sôcôla đen đặc sánh phủ kem Isigny có rắc sôcôla bột, cậu nhóc không hề trả lời những lời bông đùa về ẩm thực của Zarza.
“Không ổn à, cộng sự, em không thích món này à?”
“Không phải ạ,” cậu nhóc trả lời, đột nhiên trở nên ngờ vực, “là ngôi nhà…”
“Cái gì, ngôi nhà này có gì vậy?”
“Ngôi nhà làm em sợ, nó bị linh hồn xấu cư ngụ.”
“Cậu nhóc nói gì vậy?” Soulniz lo lắng hỏi khi thấy Zarza ngạc nhiên.
“Cậu bé nói gì vậy?” người phụ trách nhà hàng hỏi dò thông tin.
“Cậu ấy nói là ngôi nhà bị linh hồn xấu cư ngụ, và cậu ấy nói bằng tiếng Nga.”
“À, lại thêm một người Nga, đúng như tôi tự nhủ. Vào lúc này chỉ có thế thôi. Tôi đoán là những mùa đông nhẹ nhàng của chúng ta với họ chỉ là khí hậu mùa xuân.”
“Ông có nhiều khách Nga lắm à?”
“Phải, không ít. Thì mới tuần trước đây thôi, một vị khách giống hệt cậu nhóc này, mắt xếch. Thoạt đầu, tôi tin rằng ông ta là người Hoa hay đại loại như thế, nhưng kỳ thực người phục vụ quầy bar nói với tôi rằng đã nghe thấy ông ta gọi điện bằng tiếng Nga. Tại đó, ở bên Nga ấy, lắm dân mắt xếch lắm thì phải?”
Các vị phụ trách nhà hàng thường thô thiển và ít lịch thiệp hơn nhiều so với những gì trang phục tươm tất của họ cho phép phỏng đoán, Soulniz thầm nghĩ. Còn Zarza lập tức chột dạ.
“Một người to con, khỏe khoắn, mặc áo măng tô da màu đen phải không?”
“Phải, đúng rồi.”
“Ông còn nhớ vụ đấu súng ngày hôm trước ở cảng không, ông có nghe nói về nó chứ?”
“Đương nhiên, tôi đã đọc thấy vụ này trên Havre Tự do.”
“Có phải là tối hôm đó không? Ý tôi muốn nói là ông đã thấy ông ta vào tối hôm đó phải không?”
“Phải, là tối hôm đó. Ông ta thanh toán hóa đơn của mình vào đầu buổi tối. Nếu tôi nhớ không nhầm, ông ta không ăn tối tại Trang viên. Ông ta đã hỏi vài địa chỉ trong thành phố.”
“Và ông không gặp lại ông ta từ hôm đó, đúng vậy không?”
“Đúng thế.”
“Khốn kiếp,” Soulniz bật rủa, “gã khốn đó đã ở đây, ngay trước mũi chúng ta!”
“Có chuyện gì vậy?” Gantulga hỏi khi cảm thấy căng thẳng tăng lên.
Zarza giải thích với cậu nhóc rằng một người Mông cổ thiếu chút nữa đã giết anh vài ngày trước từng ở trọ cũng tại nơi này.
“Thế thì hắn chính là kẻ em cảm thấy,” Gantulga lẩm bẩm. “Linh hồn hắn vẫn còn lưu lại đây, và linh hồn đó đen tối, xấu xa.”
“Quên đi, tiểu phật, ở đây chẳng ai tin vào linh hồn đâu. Và em đừng lo, hắn đã rời đi rồi, anh không tin hắn sẽ quay lại, cho dù ta vẫn chưa thực sự biết hắn là ai.”
“Em thì biết hắn,” Gantulga nói với giọng đột nhiên trở nên rất người lớn so với một cậu nhóc như cậu. “Em biết linh hồn đó, em biết thứ mùi tanh hôi của bất hạnh mà hắn để lại sau lưng mình. Đó là Erdenbat.”
“Cái gì? Gã Erdenbat mà em đã nói đến tối qua ấy à?”
“Phải, là hắn, em chắc chắn thế…”
Zarza ra hiệu cho ông phụ trách nhà hàng rằng ông này có thể đi và chờ tới khi ông ta đi khỏi để dịch lại những gì Gantulga đã nói.
“Cậu thực sự tin là cậu nhóc cảm nhận được các linh hồn à?”
“Tôi không biết gì cả. Nếu ông nghe được những gì cậu ấy kể với tôi đêm qua… Nói tóm lại là cậu nhóc bị chấn động. Và nếu những gì cậu ta nói với tôi về Erdenbat là đúng, thì tôi hiểu cậu ta.”
“Và cậu không thấy kỳ lạ là cái gã cậu ta biết từ Oulan-Bator lại có mặt đúng ở Le Havre, nơi cậu ta suýt chết sao?”
“Tất nhiên là có! Nếu gã Erdenbat này là thủ phạm giết Batgirl, thì hắn cũng chính là kẻ muốn khuấy động trở lại vụ bắt cóc ở nhà hàng MacDo. Hắn là mối liên hệ của chúng ta giữa hai vụ án với Mông cổ. Nhưng điều đáng tò mò nhất là mối quan hệ giữa hắn và Yeruldelgger: Gantulga giống như con nuôi của viên cảnh sát này, còn Ganshü, một trong những đứa trẻ đã chết trong container, là con nuôi của một phụ nữ có quen biết nhân vật Yeruldelgger.”
“Ái chà!” Soulniz lẩm bẩm. “Một sợi chỉ kết nối hai vụ việc cách nhau mười năm, một sợi chỉ khác nối giữa Mông cổ và Pháp, và sợi dây thứ ba kết nối một tay xã hội đen và một cảnh sát. Chuyện này bắt đầu giống mớ chỉ rối rồi đây.”
“Ngược lại,” Zarza ngẫm nghĩ. “Nếu ông không coi đây là những sợi chỉ mà như những mảnh ghép, tôi thấy thậm chí bức tranh này đang bắt đầu định hình. Một mặt, chúng ta có đường dây buôn lậu hai chiều, với một chiều là đường dây buôn người để nhập khẩu những tay trộm cung cấp nguồn hàng cho đường dây buôn lậu hàng ăn cắp theo chiều ngược lại. Và mặt khác chúng ta có một tay xã hội đen mắc chứng rối loạn nhân cách chống lại xã hội mà chúng ta bắt gặp ở cả hai đầu đường dây buôn bán trẻ em.”
“Thế thì, tôi tiếp tục cho rằng nó giống một mớ chỉ rối hơn bất cứ thứ gì khác.”
“Tôi thì không. Điều chúng ta cần phải hiểu, đó là vì sao Erdenbat lại tới đây khuấy tung cả đống phân lên và anh chàng Yeruldelgger kia can dự ra sao vào đống bẩn thỉu này.”
“Thế cậu định sẽ làm thế nào?”
“Tôi cần tìm bác tôi.”