Agop trông thấy một cái bóng trong màn đêm. Một chuyển động thoáng qua. Ông đã thiu thiu thiếp đi trên phô tơi, vì một chút rượu artz và quá nhiều adrenalin. Ba giờ sáng. Ông mới chỉ ngủ có mười phút. Cơn ác mộng ông phải trải qua lần nữa đã khiến ông thao thức dù kiệt sức. Đó là một gã lính mà ông vừa thoát khỏi, và chúng sẽ trở lại. Ông là cư dân duy nhất trong thung lũng này vào mùa đông. Những căn lều du mục đầu tiên co ro vì giá rét dưới một mét tuyết đang cam chịu mùa dzüüd ở cách đây rất xa, tận sườn núi bên kia. Ông đã nghĩ tới việc chạy trốn với sự trợ giúp của Họng To, nhưng nếu làm thế hẳn tuyết sẽ khiến họ bại lộ. Ông có thể đặt chân vào đúng vết chân của con bò Tây Tạng để tìm cách che giấu dấu vết của mình, song mẹo này sẽ không thể qua mắt được những kẻ truy đuổi từ trên trực thăng. Ông đã nghĩ tới việc ẩn mình dưới lòng đất, đào một cái hố dưới ván sàn phòng làm việc của mình, hay nấp dưới mái. Song dzüüd đang vây quanh ông còn chúng là những chiến binh. Vậy nên ông quyết định đợi. Hoặc chúng sẽ tới và giết ông, hoặc buổi sáng sẽ giải thoát ông khỏi nỗi bồn chồn. Cũng không rõ vì sao, chết vào ban đêm khiến ông thấy ghê sợ hơn chết vào ban ngày. Và giờ thì một cái bóng đã xuất hiện trong đêm.
Bảo tàng của ông chẳng có cửa chớp hay rèm. Ông thích tắt hết ánh sáng rồi ngủ thiếp đi trên phô tơi, để mặt trăng xanh bào nhẵn góc cạnh của đồ đạc bằng ánh phản chiếu của thép nổi vân. Không ai có thể cướp khỏi ông khoảnh khắc kỳ diệu này. Ông nằm im trên phô tơi, không dám quay đầu về phía cái bóng đang che kín cửa sổ trong bóng tối. Các ngón tay ông mân mê thứ ông lấy từ linh hồn khốn khổ mà gã lính đã giành mất cái xác. Một cái bật lửa. Một bật lửa kiểu Zippo, chỉ có điều hơi quá to để có thể là đồ thật. Đúng ra là một món đồ bắt chước nhằm mục đích quảng cáo, trên có hình logo Las Vegas, The Sin City. Agop săm soi nhìn hồi lâu, với niềm tin kinh hoàng rằng không nên tìm hiểu thêm nữa. Ông đã cho nó vào một cái túi ni lông trong suốt nơi ông cất giữ những khám phá quý giá của mình. Đá cuội, phân khô, lông, tóc, móng… Yeruldelgger sẽ biết phải làm gì với nó rõ hơn ông. Nếu ông ta trở lại một ngày nào đó…
Ông đứng dậy để cho cái túi vào trong tủ lạnh. Một phản xạ của nhà tự nhiên học: bảo quản lạnh mọi thứ. Ông chợt thấy ngạc nhiên trước sự bình tĩnh của mình khi đi vào bếp, không hề đưa mắt nhìn cái bóng đang lớn dần lên rình mò sau lớp kính. Nhưng khi ông kéo cánh cửa quá đột ngột, tay nắm cửa tuột khỏi tay ông. Ông bị mất thăng bằng, và trong cử động để giữ mình khỏi ngã, cánh tay ông quệt phải cái gì đó trên tủ lạnh. Một trong những cái kẹp có nam châm to ông dùng để gắn đủ thứ ghi chú nhắc nhở trí nhớ lơ đãng của mình. Ông quỳ xuống nhặt những tờ ghi chú, kẹp chúng lại, rồi đứng dậy để gắn vào cánh tủ lạnh mà ông mở ra. Một luồng ánh sáng vàng xé toang bóng tối và ông để cái bật lửa trong túi ni lông vào giữa tảng sữa dê đông và một tảng bơ chua to đã ăn hết kha khá. Ông nhân cơ hội lấy luôn ra chai raki Duze quý giá. Thứ rượu raki của người Armenia sống tại Pháp, ở Marseille. Nói cho cùng, tối nay ông đã thoát khỏi tay đám Kurd, theo cách bố ông vẫn gọi tất cả những kẻ muốn xâm phạm tới tính mạng người thân của ông, và chuyện này đáng để tiếp thêm chút hơi ấm cho trái tim ông. Ông mở nút chai và tu một ngụm nhỏ thứ rượu hồi đã trở nên óng ánh vì lạnh. Rồi ông cất chai vào lại cửa tủ bên trong, đôi mắt ướt nhòa vì những ký ức và vì bốn mươi lăm độ cồn.
Lần này, cái bóng trườn tới tận chỗ ông qua tấm kính. Ông giật mình quay lại và một thoáng sợ hãi lướt qua tim ông như lưỡi dao lam trước khi ông nhận ra Họng To. Bên ngoài, con bò Tây Tạng trắng áp trán vào kính. Hai lỗ mũi nó phả lên tấm kính, hơi thở lập tức bị giá lạnh làm đông cứng thành những tinh thể nhỏ.
“Họng To, mày làm gì ngoài đó vậy?” ông ngạc nhiên hỏi trong khi đi về phía cửa sổ.
Con vật tựa trán vào khung gỗ của cửa sổ như đang tìm cách mở cửa ra.
“Này, bình tĩnh nào, anh bạn, mày muốn phá nhà tao đấy à?”
Nhưng con vật tự kỷ này, không một lời càu nhàu mà dồn hết trọng lượng của nó, tiếp tục bướng bỉnh cọ trán vào thành nhịp đều đặn.
Ông giáo sư mở cửa sổ và chạm phải làn không khí giá buốt của ban đêm. Con bò Tây Tạng thò đầu vào trong rồi ngoạm chặt lấy áo Agop bằng những cái răng vàng xỉn đầy dữ tợn.
“Nhẹ nhàng, nhẹ nhàng thôi nào, chàng trai! Mày làm sao thế hả? Mày đã chạy phải không? Thế này chẳng giống nhà hiền triết tao biết tẹo nào cả!”
Ông vòng tay ôm quanh cổ con bò Tây Tạng rồi kéo sát nó vào người. Ông cảm thấy con vật đang bồn chồn run rẩy trong tay mình.
“Ái chà, mày đang run lẩy bẩy này! Mày còn muốn sợ cái gì đây hả? Lúc này ở đây chỉ có chúng ta thôi. Mày vẫn nhớ những gì Sophocle đã nói, phải không nào: Với kẻ sợ hãi thì tất cả đều là tiếng động. Mày hiểu chứ? Nỗi sợ hãi của mày được nuôi dưỡng bởi chính nó, anh bạn to xác ạ, thế nên hãy quên tiếng động đi và chỉ lắng nghe sự tĩnh lặng thôi, hãy lắng nghe cha của mày, cha xứ Meudon, khi ông ấy viết: Im lặng, thứ âm nhạc tuyệt làm sao!”
Ông ôm lấy con bò chặt hơn chút nữa trong vòng tay mình, và như thể con vật đã hiểu ý nghĩa những từ của Sophocle và Rabelais, nó đứng im kề sát vào ông tới mức gần như nín thở. Và chính trong sự tĩnh lặng mênh mông đó mà Agop nghe thấy tiếng còi. Giống như con gió dài liên tục rít lên cao vút. Bướng bỉnh, sắc nhọn, lơ lửng…
“Lũ Kurd!” ông rủa thầm giữa kẽ răng. “Đợi đó, đừng nhúc nhích, anh bạn, đừng nhúc nhích!”
Ông vội vã lao về phía tủ lạnh. Ông biết chúng tới làm gì. Và ông cũng biết chính xác mình cần làm gì…