“Tôi phải nhìn thấy cái gì đây?” Yeruldelgger dằn từng tiếng, hai bên má lạnh ngắt và giá buốt.
Ông đang tựa lưng vào con bò Tây Tạng trắng mà người kia gọi là Họng To[1] để tìm kiếm hơi thở ấm áp hôi thối mà con vật đang che cho ông khỏi cơn gió lạnh buốt cắt da phả vào mặt ông. Bất chấp hai lớp áo măng tô, ông tưởng như cơ thể mình đóng băng đến nỗi xương cốt trên người co rút cả lại.
“Cái này!” ông giáo sư vừa nói vừa chỉ vào một hòn đá trên bề mặt phủ tuyết của sông băng.
“Giáo sư, nhiệt độ đang là âm ba mươi độ. Nếu ông bắt tôi cưỡi con vật nhai lại thối tha này giữa tiết dzüüd chỉ để đi nhặt đá cuội thì…”
“Đó không phải là một hòn đá,” ông giáo sư dường như hoàn toàn dửng dưng trước cơn gió lạnh giá giải thích. “Đó là một mẩu xương!”
“Xương hay đá cuội, tôi cũng mặc xác!” Yeruldelgger vừa càu nhàu vừa áp sát người vào cổ con bò. “Ông không thể mang cái thứ này về chỗ ông và cho tôi xem nó ở đó, trong cảnh ấm áp trước lò sưởi của ông được sao?”
“Tôi không thể!” ông giáo sư vừa nói vừa quay lưng tránh một luồng gió xoáy đột ngột quất tới.
“Tôi đoán là tôi phải hỏi ông tại sao?” Yeruldelgger sốt ruột hỏi.
“Hơn hết tôi giả định là ông sẽ hiểu!”
“Giáo sư,” vị cảnh sát nổi cáu, “ông biết ngày đêm làm cớm của tôi thế nào không mà dám bắt tôi lần mò đi giữa một trong những mùa dzüüd tệ hại nhất tôi từng biết tới tận cái sông băng mắc dịch khiến tôi rét cóng cả bốn vó này để lượm đá cuội hả?”
“Những mẩu xương!” ông giáo sư đính chính.
“Xương hay đá thì khác quái gì nhau nào?” Yeruldelgger gắt lên.
“À, nếu là đá cuội thì đây sẽ không phải hiện trường vụ án!” ông giáo sư đáp với giọng đương nhiên.
“Một hiện trường vụ án? Ý ông muốn nói rằng…”
“Rằng đó là mẩu xương người, không lẫn vào đâu được. Chính xác là một mảnh xương đùi. Mà chính xác hơn nữa là xương đùi trái.”
Yeruldelgger lập tức lấy lại được sự tập trung của một cảnh sát và thấy bực bản thân vì đã nổi nóng. Cái lạnh đã làm tư duy của ông bị tê cóng.
“Còn mảnh xương nào khác không?” ông hỏi.
Họ đang cách bảo tàng ấm áp một giờ đi đường. Họ càng đi sâu vào hẻm núi hẹp, sông băng càng uốn khum lên giữa hai vách đá. Dòng nước, bị mùa đông dồn nén lại, đông cứng thành những khối băng trượt làm bào mòn thung lũng theo nhịp điệu chậm rãi và không thể cưỡng nổi của một cỗ máy đào thầm lặng. Hai người đã phải vừa đi vừa tránh những khe nứt tới tận chỗ này, nơi một cơn gió giá buốt bào mòn khe núi hẹp bằng đám mây tuyết thô ráp to như hạt muối lớn. Yeruldelgger cảm thấy cơn gió lạnh cứa vào má và lỗ mũi ông.
“Tôi đoán là vậy!” ông giáo sư trả lời. “Thế chúng ta nhặt mẩu xương này về chứ?”
Đó là một người đàn ông xương xẩu với đôi chân ngắn ngủn, chỉ mặc quần áo bằng nửa Yeruldelgger bất chấp cơn bão tuyết. Ông ta đội chiếc mũ mỏng có vạt che tai bằng vải ni lông kaki, nhưng đã quấn khăn len bản to màu đỏ, vàng và xanh lơ quanh đầu và hai tai. Bộ râu rậm màu đen dường như đủ che chắn cho cái cổ của ông ta. Người đàn ông này là một kiểu nhân viên bảo tồn không chính thức cho phần này Khu Bảo tồn Nghiêm ngặt thuộc vùng núi Otgontenger. Tất cả mọi người, ở đây hay dưới kia, đều gọi ông ta là “giáo sư” từ khi ông ta tự mình thiết lập một bảo tàng nhỏ về hệ động thực vật của vùng.
“Mảnh xương kia thì có,” Yeruldelgger nhượng bộ, ông chẳng mong gì hơn là trở lại căn phòng được sưởi ấm của vị giáo sư. “Nếu ông tìm thấy những mảnh khác, hãy để chúng tại chỗ, bảo vệ và đánh dấu vị trí của chúng bằng thứ gì đó. Có ai biết mảnh xương này xuất hiện ở đó như thế nào không?”
“Tất nhiên rồi: nếu anh ta ngã xuống đất, thì lỗi là tại Voltaire!” ông giáo sư nói bằng thứ tiếng Pháp trôi chảy.
Yeruldelgger quay sang người đàn ông, và vị giáo sư lập tức cảnh giác trước vẻ ngạc nhiên ông đọc thấy trong ánh mắt viên cảnh sát.
“Đó là tiếng Pháp và Voltaire là một…”
“Tôi biết Voltaire là ai!” Yeruldelgger cắt ngang, “và tôi biết ai đã nói câu đó!”
“Ai đã nói câu đó?” người đàn ông kinh ngạc hỏi.
“Victor Hugo, trong Những người khốn khổ. Nhân vật Gavroche.”
Ông giáo sư lập tức nhảy dựng lên trên tuyết và dang rộng hai cánh tay như thể muốn bầu trời làm chứng.
“Ôi, tôi không tin nổi! Một tay cớm, một cảnh sát, một gã sen đầm lại biết Voltaire và Hugo! Tạ ơn trời, vậy là thế gian vẫn chưa thối nát hoàn toàn! Ông biết Những người khốn khổ à? Ông đã đọc Những người khốn khổ sao? Ông đã đọc nó thật chứ?”
“Tôi đã theo học tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Oulan-Bator,” Yeruldelgger thừa nhận như thể đang thú tội. “Đoạn trích đó có trong danh sách bài đọc của tôi.”
“Tuyệt diệu! Xuất sắc! Chói sáng! Ông chính là anh chàng cớm Khai sáng đầu tiên tôi từng gặp đấy!” ông giáo sư hào hứng reo lên và lao đến ôm chầm lấy Yeruldelgger.
Viên cảnh sát đẩy ông ta ra bằng một cử chỉ cộc cằn hơn mức ông muốn, để giữ khoảng cách của một điều tra viên.
“Thế tay Voltaire này là ai?” ông lên tiếng hỏi để lấy lại thể diện.
“Nhưng tôi nghĩ là… Đó là tác giả của… Nhưng không, tôi đùa đấy, tôi đùa đấy: Voltaire là biệt danh tôi đặt cho con diều hâu Schiller!”
“Thế mấy lời khó hiểu này nghĩa là gì vậy?”
“Tôi nghiên cứu hành vi loài kền kền râu từ nhiều năm nay. Đó là loài chim săn mồi…”
“Tôi cũng biết loài diều hâu là như thế nào rồi!” Yeruldelgger thốt lên.
“Chính xác, ông biết quá nhiều điều so với một cảnh sát. Ông có chắc mình là cớm thực thụ không? Tôi đùa đấy, tôi đùa đấy! Thực ra tôi đã nghiên cứu hành vi của khoảng nửa tá diều hâu mà tôi xác định bằng cách lấy tên các tác gia thuộc thời kỳ Khai sáng của Pháp đặt cho chúng. Có Diderot làm tổ xa đây, Montesquieu trong thung lũng phía sau, D’Alembert ở phía bên kia hồ, Rousseau xa nhất về mạn Bắc. Năm ngoái, Beaumarchais đã biến mất, và ở đây, chúng ta đang đứng trên lãnh địa của Voltaire.”
Yeruldelgger không nói gì. Ông vẫn chưa thuyết phục nổi bản thân rằng đúng là mình đang ở tâm dãy Otgontenger, đang nói chuyện với người đàn ông lấy tên các tác gia Pháp để đặt cho đám chim săn mồi.
“Schiller không phải là tác gia Pháp thời kỳ Khai sáng!” ông buột miệng.
“Schiller cũng không phải là chim,” giáo sư đáp trả. “Mỗi con diều hâu bảo vệ một lãnh địa săn bắt lên tới hàng chục kilômét vuông tính từ cái tổ dài hơn hai mét ngụ bên rìa hoặc trong hang bên dưới một mũi đá dốc đứng. Tôi đã lấy tên các tác gia lãng mạn Đức đặt cho mỗi mũi này. Có…”
“Phải, được rồi, được rồi! Được rồi! Ông muốn nói rằng có lẽ một con diều hâu đã làm rơi mảnh xương đùi người này xuống từ tổ của nó à?”
“Đâu có!” ông giáo sư giải thích. “Kền kền râu là loài kền kền ăn xác chết. Chúng sống bằng xương của xác chết. Chúng ngấu nghiến những sợi gân và dây chằng, nhưng nhất là tủy sống, do đó chúng ưa nhất là những cái xương dài, giống như cái xương đùi này. Vậy là để lấy được thứ tủy xương béo bổ này ra, như Rabelais hẳn sẽ nói… Ông biết Rabelais chứ?”
“Giáo sư!” Yeruldelgger ngán ngẩm thốt lên.
“Vậy là để lấy tủy xương, loài chim mà người ta còn gọi là lũ đập xương này bay lên cùng với món chiến lợi phẩm của chúng rồi thả cái xương rơi từ độ cao hàng vài trăm mét xuống những triền đá hay bãi đá khiến chúng vỡ ra rồi chén tủy bên trong. Và vì chúng ta đang ở trên lãnh địa của chúng, nếu cái xương này bị gãy vì đập vào đá, thì đó là lỗi tại Voltaire.”
“Nghe này,” Yeruldelgger cầu khẩn, lúc này ông đã bị cái lạnh siết chặt quanh hông, “nhiệt độ bây giờ là âm ba mươi độ, chúng ta phải mất một giờ đi đường nữa để có thể trở lại bảo tàng của ông, và tôi có cảm giác mình lạnh đến nỗi các mạch máu chứa đầy băng rồi, thế nên nếu như tất cả những điều ông vừa kể có chút ý nghĩa nào đó với cuộc điều tra của tôi thì hãy nói nhanh lên, nếu không tôi sẽ phanh bụng ông ra để sưởi ấm hai bàn tay giữa bộ lòng của ông đấy”.
“Được rồi, điều đó có nghĩa là cái xác sở hữu chiếc xương đùi này đang nằm ở lãnh địa của Voltaire. Lũ kền kền râu trung thành với lãnh địa của chúng cũng tương tự như với con mái vậy.”
“Hay ho quá nhỉ!” Yeruldelgger cằn nhằn trong khi tìm cách thúc Họng To quay ngược lại để tỏ ý với giáo sư là ông muốn quay về. “Nếu lãnh địa của nó rộng độ vài chục kilômét vuông, thì khác gì đi tìm món aaruul[2] trắng giữa cơn bão tuyết đâu!”
“Này, tôi rất thích những cục pho mát chua khô đó đấy,” ông giáo sư trả lời với vẻ thèm thuồng.
Ông này lại gần con bò Tây Tạng và chỉ vuốt lên mõm đã khiến nó thực hiện được cú quay vòng nặng nề mà Yeruldelgger dùng vai huých cũng không ăn thua.
“Chính vì thế mà tôi đã gọi cho ông, và ông cần phải nán lại đây thêm chút nữa. Nơi này chính là lãnh địa của Voltaire, nhưng đúng hơn thì đây là chốn thư giãn nghỉ ngơi của nó. Nơi kiếm mồi của nó kỳ thực cách đây nhiều kilômét về phía Tây. Thế nên khi thấy kiểu đập vỡ xương của nó, tôi đã tò mò và quan sát nó rất kỹ. Và tôi đã thấy cái này…”
Ông ta lấy từ trong túi ra một chiếc ống nhòm loại dành cho các nhà điểu học rồi vừa đưa cho Yeruldelgger vừa chỉ lên một vách đá dựng đứng ở phía trên họ.
Một khe nứt dài xẻ dọc vách đá và Yeruldelgger nhìn thấy ngay lập tức. Một thứ ít khoáng chất, không cứng và không đen bằng vách đá. Một thứ mắc kẹt vào trong đá, như mẩu giẻ mắc vào một vết rách. Một thứ bị xé rời ra. Ông đưa ống nhòm lên mắt mà đã thầm nghi ngờ về thứ mình chắc chắn sẽ trông thấy.
“Nó ở đó từ bao giờ vậy?”
“Trò đập xương của Voltaire bắt đầu khiến tôi chú ý từ khoảng chục ngày nay. Tôi đã phát hiện ra nó hôm kia, và ngay lập tức báo cho cảnh sát.”
“Người ta có biết đó là ai không? Trong vùng có ai mất tích không? Có ai vắng mặt không?”
“Không, có vẻ là không ai cả.”
“Một du khách chăng? Hay một nhà leo núi?”
“Một du khách à, không. Tất cả tới đây nói chung đều có người đi cùng. Có lẽ là một người leo núi. Ông biết đấy, một cậu nhóc hăng tiết muốn leo lên bất cứ chỗ nào, vào bất cứ lúc nào. Nhưng tôi không thấy có cái đinh leo núi hay dây thừng nào cả. Hay là một người leo núi tay không? Có thể lắm.”
“Vào giữa dzüüd sao? Thế khác gì tự sát!”
“Có thể đó là điều người này tìm kiếm thì sao?”
“Tự sát trên núi à? Quá hiếm… Thêm nữa những người tự sát muốn người khác tìm thấy xác của họ. Đáng lẽ người này phải ở dưới chân vách đá chứ không phải mắc kẹt trên kia!”
“Tôi đồng ý với ông,” ông giáo sư nhượng bộ. “Chẳng gì lý giải được vì sao cái xác lại mắc kẹt trên đó, hay làm thế nào mà nó lại ở trên đó được.”
Yeruldelgger lại một lần nữa chĩa ống nhòm về phía vách núi. Ông nhận ra những mảnh áo trượt tuyết, một bàn tay, những lọn tóc, nhưng không có khuôn mặt. Ông đưa ống nhòm trở lại chỗ bàn tay và nhận thấy không có găng. Cái đầu chỉ đội chiếc mũ len sẫm màu. Theo bản năng, ông nghiêng về khả năng đây là một người đàn ông, còn khá trẻ, và mặc đồ không hề thích hợp với tiết đại hàn. Yeruldelgger tìm kiếm những manh mối khác. Vải bạt, những cái dây đai, dây thừng, một bộ đai an toàn…
“Có cách nào để leo lên đó không?”
“Không ai mạo hiểm làm vậy vào mùa đông đâu. Tôi thậm chí không biết liệu người ta có thể dùng trực thăng thòng dây thả ai xuống đó được không. Anh ta nằm quá sâu trong vách đá. Cần đợi những ngày đẹp trời hơn!” ông giáo sư đưa ra lời khuyên.
“Miễn là gã Voltaire của ông không xơi mất các manh mối từ giờ cho tới lúc đó!”
“Các manh mối à? Ông nghĩ gì vậy?”
“Nạn nhân khốn khổ này không thể bị kẹt sâu vào trong đến thế chỉ vì tuột tay hay trượt chân rơi xuống,” Yeruldelgger giải thích.
“Vậy thì bằng cách nào?”
“Anh ta rơi xuống từ trên cao hơn rất nhiều!” Yeruldelgger lẩm bẩm trong khi ngước mắt nhìn lên bầu trời trắng toát.
“Sao cơ, bị thả từ trên trời xuống, như là do một con kền kền râu hả?”
“Sao lại không chứ? Có những người chẳng khác gì con vật xấu xa nhất: cả hai đều có thể gây hại!”
“Voltaire à?”
“Voltaire!”
Hai người im lặng quay về bảo tàng, bám vào bộ lông dài xồm xoàm của con bò Tây Tạng trắng để không bị trượt. Đó là một ý ngông của ông giáo sư khi luôn đi cùng con vật của mình vào mùa đông. Yeruldelgger đã từ chối leo lên lưng con bò đó vì sợ mình có vẻ lố bịch, nhưng trong cái lạnh cắt da này, ông lại thấy an tâm khi biết chỗ bấu víu này hiện hữu.
Khi họ về tới bảo tàng, ông giáo sư để Họng To lại bên ngoài mà không hề buộc lại. Ông chỉ lo thu xếp chỗ trú ẩn cho con vật khi nhiệt độ tụt xuống dưới âm bốn mươi độ. Ngoại trừ điều kiện thời tiết khắc nghiệt cực độ này, con bò Tây Tạng tiết ra một thứ dầu giúp nó chống rét cũng ngang với lớp lông dưới dày và bộ lông ngoài dài. Khi cần, giáo sư chỉ cần khẽ gọi con vật nhai lại to con cận thị này là được. Con bò Tây Tạng có thể nhận ra giọng nói của ông từ khoảng cách hơn một kilômét trong bão tuyết.
Ngay sau khi vào trong, ông giáo sư mời Yeruldelgger cùng tới phòng làm việc đầy ự sách và mẫu động vật. Ông ném vài viên phân bò Tây Tạng khô vào lò sưởi bằng gang, rồi lấy hai chiếc ly kèm chai rượu ra. Yeruldelgger cho rằng đó là arkhi, loại rượu làm từ sữa bò Tây Tạng lên men, nhưng ông chủ nhà đang mời ông artz, sản phẩm khi chưng cất arkhi lần nữa. Thứ rượu này ít nhất cũng phải bốn mươi độ và làm cổ họng họ cháy bỏng trước khi bốc lên sôi sục đằng sau đôi mắt họ. Yeruldelgger đợi tới khi các dây thanh của ông rung động được trở lại rồi mới xin phép giáo sư gọi điện thoại về Oulan-Bator. Ông muốn người ta thực hiện những gì cần thiết để thu xếp cho ông quay về từ sân bay Uliastay, vì giáo sư đã đề nghị đưa Yeruldelgger về tới tận đó. Ở đầu dây bên kia, hồi lâu im lặng của viên thanh tra trẻ nhanh chóng khiến ông mất kiên nhẫn.
“Sao vậy, thanh tra, có vấn đề à?” Yeruldelgger gắt gỏng.
“Nghĩa là… Thực ra ông không cần phải tới Uliastay, thưa ông…”
“À thế à? Và vì sao?”
“Vì có một chiếc xe đã trên đường tới đón ông rồi, thưa ông…”
“Một chiếc xe à? Ý cậu muốn nói là tới đây, tới Otgontenger, trong thời tiết này sao? Và vì lý do nào vậy?”
“Cái này, thưa ông, tôi không có đủ thẩm quyền để nói với ông. Họ sẽ tự giải thích để ông rõ. Họ đã từ Oulan-Bator tới để làm việc đó…”
❀ ❀ ❀
[1] [^b5]: Grandgousier, nguyên là tên một nhân vật bố của Gargantua trong tác phẩm Gargantua của Frangois Rabelais.
[2] [^b6]: Món sữa được làm đông và để khô tự nhiên.