Thời Hoang Dã

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
# 13 … vào giấc ngủ dữ dội, người nằm vắt ngang giường.

❊ ❊ ❊

Khi ra khỏi bệnh viện, ánh đèn pha nháy gọi khiến ông lóa mắt. Ông nhận ra xe của anh chàng Kazakh ở giữa bãi đất trống và bước về phía đó. Người lái xe xuống xe nhưng không bước lại gặp ông. Khi hai người mặt đối mặt, anh chàng đưa cho ông chiếc ba lô đi đường mà ông đã để quên trên băng ghế. Yeruldelgger cầm lấy ba lô, cảm ơn qua loa, còn người lái xe lại lên xe, không đáp lời cũng chẳng nố máy, dõi theo vị cảnh sát đi vòng qua bệnh viện để vào thành phố. Vài ngọn đèn lắp ở mỗi góc các tòa nhà xuyên thủng bóng tối bằng thứ ánh sáng não nề. Yeruldelgger nhận ra một hàng rào tồi tàn, đằng sau là mấy chiếc lều truyền thống, hiện ra chắn đường mình. Ông hoàn toàn có thể trèo qua rào đi tiếp theo truyền thống du mục, nhưng ông không chắc những người đang náu mình sau lớp dạ căn lều vẫn còn cởi mở đón nhận tinh thần thảo nguyên. Họ hoặc mấy con chó lông vàng của họ. Ông nhìn thấy một con hẻm phía bên phải ngược lên phố chính của thành phố, và khi rảo bước hướng về phía đó, ông thấy từ xa chiếc xe vẫn không hề nhúc nhích. Yeruldelgger không thế đoán chắc liệu anh chàng Kazakh vẫn còn ngồi sau vô lăng hay không. Ông ghé vào khách sạn Balorjin, nơi chỉ có năm phòng nhỏ đơn sơ và sạch sẽ trong một ngôi nhà giống như nhà isba truyền thống bằng gỗ, tất cả các phòng đều trống, và có một khu tắm vòi sen chung, nhưng có nước nóng. Ông chọn căn phòng duy nhất quay ra phố rồi buông mình nằm xuống giường.

Ông chỉ ngủ được một tiếng đồng hồ, một giấc ngủ chập chờn, rồi thức dậy vã thứ nước lạnh buốt ở chậu rửa lên mặt. Khi ánh mắt ông bắt gặp hình ảnh phản chiếu của mình trong gương, ông bàng hoàng hồi lâu, chỉ thấy cái vỏ trống rỗng của một linh hồn đầy âu lo. Thế rồi ông rùng mình và trở lại với thân xác mình. Ông còn phải đợi ba giờ nữa trước khi trở lại nhà xác.

Bên ngoài, thành phố tê cóng nằm co ro dưới mùa đông. Bất chấp những vạch mốc được tạo ra nhờ vài tuyến vỉa hè và đường nhựa, mấy căn lều và tòa nhà có vẻ mọc lung tung ở bất cứ đâu, theo bất cứ cách nào. Chỉ có hàng rào đem lại cho những con đường một chút hình dạng. Theo bản năng, ông băng qua đường về phía bệnh viện, cắt ngang con đường nhỏ có quán ăn chay tọa lạc. Ông cần một bữa ăn đúng nghĩa và quyết định đi tiếp vẫn trên vỉa hè vắng tanh đó về phía Đông. Khi đi tới ngã tư kế tiếp, ông nhận ra mình đã vào tới trung tâm Uliastay. Một con phố hẹp chạy dài bên tay phải, giữa Bảo tàng các Nhân vật nổi tiếng và Nhà hát. Hai vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa đều sinh ra ở vùng đất này. Bảo tàng tự hào trưng ra chín phòng. Yeruldelgger nghĩ tới thiền viện nằm phía trên thành phố với chín lăng mộ trắng tưởng niệm chín vị thiền sư nổi tiếng. Ông cũng nhớ tới chín vị nữ thần nghệ thuật trong thần thoại Hy Lạp rồi hứng thú lục tìm trong trí nhớ của mình: chín vị thần của người Ai Cập, chín con trai của rồng trong thần thoại Trung Hoa, chín hành tinh trong Hệ Mặt trời, chín tháng mang thai của con người. Rồi đó cũng là số kiếp sống giả định của loài mèo, con số mang tới bất hạnh tại Nhật Bản, và mang lại may mắn ở Trung Quốc. Ông biết lý do tại sao, đó là câu chuyện về hiện tượng đồng âm dị nghĩa. Với người Trung Hoa, con số chín có gì đó liên quan với từ tráng lệ. Mặt khác, Tử cấm thành hình như cũng có chín nghìn chín trăm chín mươi chín gian phòng. Và chín cũng là con số của sự hoàn thiện theo Kabbale, con số của vĩnh cửu theo những người Tam điểm, là ba lần của ba ngôi, v.v…

Đến khi quên mất vì sao mình lại nghĩ tới con số chín, Yeruldelgger đã trở xuống con hẻm nhỏ. Ông đang băng ngang một hẻm nhỏ khác rẽ sang phải tới bệnh viện thì trông thấy, nằm xa hơn và hơi tụt vào một chút, một ngôi nhà màu trắng mái lợp tôn xanh da trời nhô lên trên đống tuyết. Dù chỉ được chiếu sáng lờ mờ, nơi đó có vẻ giống một quán ăn. Băng ngang bãi để xe bị những vũng nước đóng băng cắt xẻ ngang dọc, ông đẩy cửa vào Chigistei và ông thấy tim mình lập tức ấm lên khi khám phá ra một quán ăn cũ kỹ dễ chịu kiểu Xô Viết. Rộng rãi, trống trải, hệ thống chiếu sáng mộc mạc, với quầy bar dài đồ sộ, phòng ăn rộng nơi hai nhân viên phục vụ đang ngồi chơi trò đốt xương không có vẻ gì chờ đợi khách hàng, một lò nướng pizza đã tắt lửa và ở đầu kia quán là một phòng nhỏ được ngăn riêng bằng những chậu hoa nhựa có tràng hoa mỏng mảnh nhiều màu gắn cố định. Phòng VIP. Một trong hai người phục vụ mang đến cho ông ba tấm thẻ trước khi ông kịp chọn chỗ và quay lại chơi với đồng nghiệp. Yeruldelgger hiểu ông cần chọn ngồi ở đâu, vì thực đơn của ông phụ thuộc vào điều đó. Trong phòng ăn chính sẽ là đồ ăn Trung Hoa, Hàn Quốc và pizza. Ở chỗ quầy bar là đồ ăn địa phương. Trong phòng VIP người ta phục vụ thịt ngựa theo thực đơn. Ông quyết định làm mọi thứ phức tạp lên bằng cách ăn kiểu Mông Cổ với món thịt ngựa hầm tại quầy bar. Món ông gọi khiến hai nhân viên phục vụ thì thầm với nhau một lúc rồi cả hai cùng chạy vào bếp thông báo. Khi đầu bếp bước vào phòng, vừa đi vừa lau tay vào tạp dề, Yeruldelgger lập tức nhận ra anh chàng khiêng cáng ở bệnh viện.

“À, hóa ra là cho ông!” cậu thanh niên mỉm cười, “vậy tôi sẽ chuẩn bị món đó ngay lập tức.”

Yeruldelgger tự hỏi làm thế nào người ta có thể chuẩn bị ngay lập tức một món ăn mà theo truyền thống cần phải nấu ít nhất trong bốn giờ, nhưng khi ông được phục vụ và cậu thanh niên tới ngồi xuống cạnh ông đầy tự hào, ông chỉ có thể khen ngợi cậu ta. Đó chính là món thịt ngựa hầm hồi thơ ấu của ông và Yeruldelgger trải qua hai giờ đồng hồ dễ chịu trò chuyện đủ thứ với cậu sinh viên trẻ cùng lúc làm năm hay sáu công việc khác nhau. Trước khi để cậu ta đóng cửa quán ăn nơi không có thêm ai tìm đến nữa, ông để lại danh thiếp của mình để phòng trường hợp cậu ta tới Oulan-Bator.

“Để theo những khóa học nghiêm túc hơn,” ông vừa bước ra ngoài vừa nói đùa. “Văn học so sánh, cái đó không làm cậu quan tâm à? Tiếng Pháp, tiếng Đức, các sinh ngữ khác!”

Wer reitet so spät durch Nacht und wind? Es ist der Vater mit seinem Kind!”[1] cậu thanh niên liền tuôn ra một tràng trong khi đóng cửa lại.

Yeruldelgger chợt nhớ rằng người ta có nói Mông cổ là quốc gia nói tiếng Đức nhiều nhất trên thế giới ngoại trừ Đức và Áo. Sau một hồi cố gắng tìm ra lý do cho việc này, ông đã lại chỉ có một mình trong màn đêm yên tĩnh, đột nhiên chìm đắm trong ký ức về những bức ảnh chụp xác Colette.

***

Bốn mươi lăm phút sau, ông tỉnh dậy khi đang nằm dài trên bàn giải phẫu tử thi tại nhà xác bệnh viện, trong khi khuôn mặt đầy giễu cợt của nữ bác sĩ pháp y đanh đá đang cúi xuống nhìn ông.

“Vậy là ông trân trọng tôi tới mức này cơ à?” cô ta giễu cợt.

“Tôi làm gì ở đây thế này?” Yeruldelgger hỏi, đầu ong ong đau như búa bổ.

“Cậu ta đã đưa ông tới đây. Cậu ta biết tôi vẫn còn ở đây. Vì ông.”

Yeruldelgger muốn xem ai đang đứng bên cạnh mình, nhưng chỉ riêng việc đưa mắt nhìn sang đã khiến ông thấy buồn nôn. Ông nhận ra giọng nói của cậu nhân viên khiêng cáng.

“Ông đi khỏi được nửa tiếng thì tôi cũng ra về sau khi đóng cửa quán. Thông thường, tôi sẽ đi ngược lên phố chính rồi đi bộ về phòng ký túc ở trường đại học, nhưng tôi lại muốn biết liệu ông còn đó không để hỏi thông tin về người đã chết. Tôi thấy ông trong một đường hẻm cắt ngang khu lều tới bệnh viện. Tôi cứ nghĩ có kẻ đã giết ông.”

“Thật không may là chẳng phải vậy!” nữ bác sĩ pháp y than thở. “Tôi đoán là do thái độ ngạo mạn bướng bỉnh của dân thủ đô. Người ta đã nện ông bất tỉnh, nhưng không có chấn thương nào. Ai cũng sẽ nhất trí rằng ông có cái đầu rất cứng, nhưng ông có thế đã chết cóng, tối nay ít nhất cũng phải âm ba mươi độ. Thế nên cậu ta đã cứu mạng ông.”

“Ngược lại, ông đã bị lột sạch, cậu sinh viên phân trần. Mọi thứ bị ném tung tóe khắp xung quanh ông. Tôi đã cố gắng nhặt nhạnh những thứ tôi có thể, nhưng…”

“Làm sao tôi lại có thể để mình bị bất ngờ như vậy chứ?” Yeruldelgger càu nhàu.

“À, ngay cả những cảnh sát vĩ đại của Oulan-Bator đôi khi cũng sơ suất!” nữ bác sĩ pháp y giễu cợt.

“Hãy giữ lại những lời mỉa mai của cô, đồ phù thủy già. Cô chưa biết tôi là ai đâu!”

“Kẻ Báo Thù thứ bảy chắc? Hay John McClane[2] của thảo nguyên?”

“Cô đoán gần đúng rồi đấy. Tôi đã được tôi luyện ở Đệ thất Thiền viện. Không bao giờ có chuyện tôi để mình bị bất ngờ.”

“Đệ thất Thiền viện!” cậu nhân viên khiêng cáng thốt lên. “Vậy ra đó không phải là huyền thoại? Nơi đó thực sự tồn tại sao?”

“Nếu nơi đó thực sự tồn tại, kẻ tấn công người này đã chết rồi,” nữ bác sĩ pháp y gắt lên.

“Hắn sẽ không chết,” Yeruldelgger chữa lại. “Tôi sẽ vô hiệu hóa hắn.”

“Vô hiệu hóa, đúng là từ ngữ của cảnh sát! Ông bạn của ông cũng đã bị vô hiệu hóa đấy. Chính xác là bởi natri thiopental. Báo cáo giải phẫu tử thi của tôi đang ở trong túi áo măng tô của ông, và cậu nhóc sẽ đưa ông về khách sạn. Đừng nhồi nhét quá nhiều những lời đùa nhảm của ông vào đầu cậu ta. Cậu ta đã gần thấm nhuần được cách nhìn nhận khoa học về đống lộn xộn nơi ta đang sống đây. Đừng cho cậu ta quá nhiều hy vọng. Giờ mời ông xéo đi, tôi tắt đèn và đóng cửa đây.”

Yeruldelgger nhổm dậy leo xuống khỏi bàn giải phẫu tử thi, hơi loạng choạng trước khi lấy lại được thăng bằng. Ông cùng cậu sinh viên ra ngoài qua cửa khoa cấp cứu và cái lạnh lập tức làm tâm trí ông dịu lại.

“Này, quý ông Thiếu Lâm, đợi đã. Có thứ này trong tấm bạt quấn quanh cái xác của ông!”

Cô ta đưa cho ông cái túi ni lông bên trong đựng chiếc bật lửa, rồi đóng sầm cửa lại bỏ mặc hai người không nói thêm lời nào. Yeruldelgger ngắm nghía cái bật lửa trước khi nhét sâu vào trong túi quần. Hẳn nó đã rơi vào tấm vải bạt khi ông trượt chân trong lúc lấy bạt quấn quanh thi thể Agop. Giờ thì ông đã hiểu tại sao có kẻ đánh ngất mình.

“Ông nghỉ qua đêm ở đâu?”

“Ở Bolorjin.”

“Hơi xập xệ, nhưng nước thì nóng. Tôi làm bảo vệ ban đêm ở đó!”

Vừa quay trở lại phòng mình sau khi chia tay cậu sinh viên và hết lời cảm ơn cậu ta, ông đã phát hiện ra căn phòng bị lục soát. Ông thậm chí chẳng buồn tìm hiểu xem những kẻ này có lấy cắp gì của mình không. Ông biết chúng tới tìm cái bật lửa mà Agop, bằng cách nào đó, đã gửi thành công cho ông. Ngay khi về tới Oulan-Bator, ông sẽ bắt vật chứng này phải cung cấp mọi thông tin có thể lý giải cho cái chết của ông già Armenia. Rồi cơn mệt mỏi ập xuống và ông chìm vào giấc ngủ dữ dội, người nằm vắt ngang giường.

❀ ❀ ❀

[1] [^b8]: Tiếng Đức trong nguyên bản, trích trong bài thơ Erlkönig của Johann Wolfgang von Goethe: “Ai đi quá muộn trong đêm gió? Chính là người bố cùng các con mình”.

[2] [^b9]: Nhân vật chính trong loạt phim hành động Die Hard (Mỹ).

Lê Đình Chi dịch • Les Temps Sauvages • (Yeruldelgger, #2)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Ian Manook

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.