Lần này, Yeruldelgger quay về chỗ Solongo. Cơn mệt mỏi cùng các cảm xúc đã làm ông kiệt sức, và ông nằm vật ra giường. Cô thấy ông ngủ khi quay về nhà liền đi chuẩn bị bữa tối mà không đánh thức ông. Cô im lặng nấu một nồi lớn súp bột nhào mà Yeruldelgger thích hơn súp mì. Nước hầm cừu đã có sẵn từ hôm trước. Cô đun sôi nước hầm trong khi dùng tay xé bột nhào thành những miếng vuông to. Khi nước trong nồi hầm sôi lên cuộn các miếng thịt cừu va đập vào nhau, Solongo ném bột nhào vào nước hầm đang sôi rồi tới đánh thức Yeruldelgger bằng nụ hôn lên má. Đôi lúc, trong những khoảnh khắc ngắn ngủi chờ ông thức giấc, cô hiểu người đàn ông này đã mệt mỏi khi phải chịu đựng và cho đi tới mức nào. Thế rồi ông nhỏm thân hình nặng nề dậy, và nỗi sợ của Solongo tan biến theo nụ cười đầu tiên của ông.
“Hầm cừu à?”
“Vâng!”
“Với bột nhào?”
“Vâng!”
“Chà! Món pyartan thời thơ ấu của chúng ta. Để trả lại sức lực và sự tráng kiện cho một người đàn ông quá mệt mỏi với việc chịu đựng và cho đi thì không gì sánh bằng!”
Solongo thường tự hỏi liệu có phải nhờ được rèn luyện tại Đệ thất Thiền viện mà ông đọc được ý nghĩ của cô hay không, hay ngược lại chính cô đã truyền cho ông suy nghĩ của mình. Vì cô là bác sĩ pháp y, nghĩa là một nhà khoa học, cô ưa coi việc này là sự ngẫu nhiên được tính toán.
Hai người cùng ngồi xuống bên chiếc bàn thấp và ăn tối trong im lặng, Yeruldelgger để mặc Solongo trìu mến ngắm nhìn ông và khoan khoái tận hưởng món ăn cô đã nấu cho mình. Ông ăn hết đĩa của mình, ăn nốt đĩa của Solongo khi cô không ăn thêm được nữa, rồi trút nốt phần còn lại trong nồi vào đĩa của ông. Chỉ sau đó ông mới kể với cô ngày lạ kỳ ông vừa trải qua, kết thúc ở chỗ Bekter.
“Em mới nói chuyện cùng Ganzorig chưa đầy một giờ trước,” Solongo giải thích. “Anh ấy không hề gọi điện cho Bekter. Anh ấy nói mình không cần phải làm điều đó…”
“Vậy thì ai đã yêu cầu thả anh?”
“Anh ấy chẳng biết gì hết, và em cũng thế. Nhưng điều quan trọng là anh được thả rồi, phải không?”
“Không hẳn. Bekter có mọi lý do để giữ anh lại. Người ta đã không cho anh ta lựa chọn. Anh nghĩ thậm chí người ta đã công khai đe dọa anh ta.”
“Ai mà lại bảo vệ anh tới mức ấy?”
“Ai đó quyền thế và được thông tin đầy đủ về những gì xảy ra tại Sở. Một người anh đã không hề đề nghị gì.”
“Em biết,” Solongo trả lời, không rời mắt khỏi ông, “và điều này làm em hơi lo.”
Yeruldelgger tiếp tục trầm tư. Cô hiểu ông đang cố gắng đánh giá mối đe dọa từ chính sự bảo vệ bí ẩn này. Cô quyết định thay đổi chủ đề.
“Xác bạn anh đã được chuyển về trong ngày hôm nay. Ông già Armenia ở Otgontenger.”
“Agop à? Em đã có thời gian giải phẫu tử thi chưa?” ông hỏi, đột nhiên trở nên quan tâm.
“Rồi. Nữ bác sĩ pháp y ở Uliastay đã nói đúng: có một vết tiêm ở dưới cổ, vào tĩnh mạch cảnh ngoài.”
“Cô ta đã nói về natri thiopental, nó là gì vậy?
“Một dạng penthotal. Một barbituric có tác dụng ngắn và nhanh. Nói chung người ta sử dụng nó làm thuốc tiền gây mê trước khi tiêm các loại thuốc mạnh hơn. Nhưng thứ thuốc này cũng có mặt trong thành phần hỗn hợp gây tử vong tiêm cho phạm nhân tử hình ở một số bang tại Mỹ.”
“Chúng đã tiêm thêm thứ gì nữa cho ông ấy à? Thứ đã giết ông ấy?”
“Không, ông ấy bị bỏng nhẹ và ngộ độc khói, nhưng thực ra ông ấy chết vì lạnh.”
“Vì lạnh? Em muốn nói là…”
“Em muốn nói là ông ấy bị tê liệt nhưng tỉnh táo khi chết cóng mình trần trên tuyết ở nhiệt độ âm ba mươi độ.”
“Em chắc vậy chứ?”
“Phải. Khi ấm lên, cái xác đã để lộ ra nhiều dấu vết rõ rệt. Ông ấy đã bị nhiều người giữ trong khi một gã khác cắm kim tiêm vào cổ ông ấy.”
“Cái gì, nhiều người xông vào chỗ ở của ông ấy, khống chế ông ấy, đâm kim tiêm vào cổ làm ông ấy tê liệt trước khi đốt căn lán. Nghe chẳng ăn nhập gì cả!”
“Có đấy, để bỏ lại một cái xác sạch sẽ, không có dấu vết bị hành hung hay vết thương, để cảnh sát tin là do tai nạn. Kiểu như một người đang ngủ thì bừng tỉnh do cháy và ngạt thở gục xuống rồi cuối cùng cháy thành than. Chỉ có điều chúng ta tìm thấy ông ấy ngoài tuyết, trong khi đáng lẽ ông ấy đã bị tê liệt.”
“Họng To!” Yeruldelgger cắt ngang. “Con bò Tây Tạng đã cố gắng cứu ông ấy. Anh thấy những vết bỏng trên bộ lông của nó. Hẳn nó đã kéo Agop ra khỏi đám cháy ngay khi những kẻ tấn công rời đi.”
“Thế thì anh phải cảm ơn nó. Nếu không có con bò, dấu vết mũi tiêm và dư lượng thiopental hẳn đã biến mất. Những kẻ gây ra chuyện này bỏ nhiều công sức để tiêu hủy mọi thứ. Anh biết vì sao không?”
“Có lẽ vì cái này,” Yeruldelgger vừa nói vừa lấy từ túi ra chiếc bật lửa đựng trong túi ni lông. “Anh nghĩ Agop đã kịp nhìn thấy hoặc nghe thấy những kẻ tấn công đi tới, và đã tìm cách cài cái này vào bộ lông của con bò Tây Tạng. Anh nghĩ ông ấy muốn anh lấy lại chiếc bật lửa bằng cách này hay cách khác.”
Solongo cầm lấy cái túi ni lông mà Yeruldelgger đưa cho cô rồi xem xét nó.
“Anh biết ông ấy lấy chiếc bật lửa này từ đâu không?”
“Anh đoán là từ cái xác trên núi. Ông ấy nhắn tin cho anh nói rằng ông ấy đã quay lại chỗ đó.”
“Cái xác đó nằm ở đâu?”
“Vẫn ở trên cao. Anh cần thu xếp cách nào đó để đưa nó xuống, nhưng vẫn chưa có thời gian để lo chuyện đó.”
“Thế thì hãy thu xếp để ai đó đi lo việc này, và em có thể khiến cái xác phải lên tiếng. Trong khi chờ đợi, em sẽ thử xem với khoa học chúng ta có thể thu được gì từ manh mối này. Cũng vì thế mà anh ở đây, phải không? Để em lo chuyện này thay anh?”
“Gần đây đúng là anh hơi bị phân tâm bởi vụ sát hại Colette,” Yeruldelgger ấp úng phân bua. “Nghe này, hãy bắt đầu bằng thu thập các dấu vân tay. Nếu Agop đã cẩn thận bảo vệ nó trong túi ni lông, thế có nghĩa là ông ấy đã làm tất cả những gì cần thiết để không…”
“… gây tạp nhiễm các manh mối của em?”
“Anh thực sự nói thế à?”
“Đúng ra thì là một chuyên gia ở Miami.”
“Em lại giễu anh rồi, đúng như Gantulga.”
“Lại nói về Gantulga. Anh có tin gì về nó không?”
“Anh đã nói với em rồi. Có vẻ là thằng nhóc có qua lại với Ganshü, đứa con trai của Colette, nhưng ông lão cho anh biết chuyện đó nói đã không thấy nó từ vài tuần nay.”
“Em cứ nghĩ là anh đã gửi nó vào thiền viện. Em không hề biết các đệ tử mới nhập môn có thể rời khỏi thiền viện để vào thành phố.”
“Anh cũng không. Ai gặp lại Ganzorig trước sẽ yêu cầu cậu ta phải giải thích. Anh không có thời gian đến tận thiền viện để trao đổi chuyện đó với Nerguii.”
“Còn Saraa?”
“Anh sẽ lo chuyện con bé!”